Ngày đăng: 27/06/2023 15:04
Lượt xem: 14127
Chuyện chữ ra chuyện đời

Trong tiếng Việt, kho tàng từ ngữ của chúng ta vô cùng phong phú và đa dạng. Khi giao tiếp hàng ngày, chúng ta thường dùng một số từ, tổ hợp từ, những câu thành ngữ, tục ngữ quen thuộc. Tuy nhiên, có nhiều từ hay tổ hợp chúng ta đã dùng quen nhưng lại chưa hiểu lý do từ đâu mà có. Có những lý do xuất phát từ căn nguyên thực tế, nhưng cũng có từ chẳng bắt nguồn từ lý do nào cả. Đơn giản là một người nào đó ngẫu nhiên sử dụng rồi người khác cũng dùng theo mà quen.

Nhằm giới thiệu và lý giải một số từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ đang được dùng phổ biến trong giao tiếp tiếng Việt, Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Tình – Tổng thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam đã nghiên cứu và đã cho ra đời cuốn sách “Chuyện đời ra chuyện chữ”. Sách được nhà xuất bản Lao động Xã hội ấn hành năm 2019. Với độ dày 180 trang, khổ 21cm, “Chuyện đời ra chuyện chữ” sẽ đưa bạn đọc khám phá hành trình ngôn từ tiếng Việt từ dân gian cho đến hiện đại, chắc chắn bạn đọc sẽ vô cùng bất ngờ và thú vị qua những gì được đọc trong cuốn sách này.

Trong cuốn sách “Chuyện đời ra chuyện chữ”, tác giả Phạm Văn Tình đã tập hợp những bài viết lí giải về các hiện tượng từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ, những từ mới, từ lóng từ biến đổi nghĩa trong Tiếng Việt. Nội dung cuốn sách được tác giả chia làm 2 phần cũng là hai mảng ngôn ngữ đáng quan tâm.

Phần I có chủ đề “Chuyện chữ ngàn xưa”. Đây là phần bàn về các tục ngữ, thành ngữ, lý giải các hiện tượng khó hiểu, biến đổi nghĩa trong thành ngữ, tục ngữ dân gian. Mặc dù quen thuộc nhưng không phải câu nào chúng ta cũng hiểu được ngọn nguồn cũng như ngữ nghĩa. Vì vậy chúng ta cùng nhau truy tìm ngữ nghĩa của nó hình thành trong dân gian như thế nào nhé! Chẳng hạn,  với câu thành ngữ “Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng”. Ta biết rằng: Ông Nghè chính là lối nói dân gian chỉ các vị đỗ tiến sĩ thời xưa. Người đạt được học vị này rất danh giá, sẽ nhận được mũ áo, phẩm phục vua ban, được rước về quê. Câu này ý nói người nào đó, chưa đạt được tới danh vị này đã vội lên mặt hợm hĩnh, kiêu ngạo, vênh vang với thiên hạ. Tuy nhiên, câu thành ngữ này lại xuất hiện từ một câu chuyện dân gian. Chuyện kể rằng: Ngày xưa, tại một ngôi đền nhỏ, có người giữ đền nằm mơ thấy thần báo mộng nhiều lần rằng “ngày mai sẽ có vị quan lớn đến chơi”. Nhưng chẳng có vị quan nào đến cả, chỉ thấy anh học trò nghèo nhà bên ghé chơi. Nhiều lần như vậy. Ông từ bèn kể chuyện này với người học trò và nói “Theo lời thần thì chắc ngày sau thế nào thầy cũng đỗ đạt và làm quan lớn”. Chàng học trò nghe vậy dương dương tự đắc, anh ta nghĩ sau này làm quan thì nên bỏ cô vợ già xấu để lấy một cô vợ xinh đẹp. Anh ta lớn tiếng với người đến đòi nợ mình: “Mai này ta đỗ đạt làm quan to, ta sẽ lấy đất nhà các ngươi ta ở…”.  Thấy vậy, thần thay đổi thái độ. Khi anh học trò đi thi, thần tìm cách đánh hỏng. Anh chàng bị trượt tân khoa, bị dân gian chê cười và đưa vào kho tàng thành ngữ Việt. Câu thành ngữ “Chưa đỗ ông Nghè đã đe hàng tổng” dùng để chỉ thái độ hợm hĩnh không phải lối của ai đó, chưa làm nên công chuyện gì đã vội vàng khoa trương phách lối, thiếu khiêm tốn.

Còn đối với câu thành ngữ “Nhũn như con chi chi”, là câu nói rất quen thuộc dùng để chỉ thái độ quá yếu mềm, sợ sệt. Theo dân gian, chi chi  là một loài cá nhỏ, thâm mềm, khi bị vớt lên khỏi mặt nước thì thân mình sẽ bị nhũn nát. Từ đặc điểm bề ngoài của loài cá chi chi mà dân gian chọn làm nét nghĩa biểu trưng cho đặc điểm, tính cách, thái độ sợ sệt, chịu lún quá mức của ai đó trong cuộc sống. Tuy nhiên, dường như con chi chi chỉ có trong tưởng tượng của người đời với những đặc tính dân gian thêu dệt. Trong danh sách tên phổ biến của các loài, không thấy ghi chép con chi chi trông như thế nào, thuộc họ loài nào, tên khoa học ra sao…Trong khi đó, nó lại là biểu tượng của sự thất thế hàng đầu. Thực tế thì chẳng ai tìm thấy loài cá có những đặc tính như cá chi chi đã nói nhưng nó vẫn tồn tại trong giao tiếp ngôn từ với biểu trưng mà ta đã biết. Thật thú vị, phải không các bạn?

Một câu nói cũng vô cùng quen thuộc mà chúng ta thường được nghe rất nhiều “Rách như tổ đỉa”. Câu thành ngữ này ý nói đến người nghèo, nhà cửa quần áo… rách rưới tới mức tả tơi, không còn chỗ nào là lành lặn như tổ địa. Thực tình thì chẳng có con đỉa nào biết làm tổ. Tổ đỉa vốn là tên gọi một loài cây dại mọc chìm dưới các chân ruộng nước. Nó cùng loại với các loại cây cỏ thân mềm như rong rêu, tóc tiên… Lá tổ đỉa có nhiều lớp, ken dày mỏng va hình thù lộn xộn, trông có vẻ rất xơ xác, tớp túa vì bám nhiều bùn đất.

Những câu nói dân gian khác như: Ăn hại đái nát, ăn vóc học hay; Để lâu cứt trâu hóa bùn; Bố vợ phải đấm; Cà cuống chết đến đít vẫn còn cay; Nghèo rớt mồng tơi; Thiên lôi chỉ đâu đánh đấy… Những câu thành ngữ này vô cùng quen thuộc với chúng ta, vậy nguồn gốc của nó là gì? Những câu chuyện gắn liền với câu nói đó như thế nào? Câu trả lời vô cùng thú vị sẽ có trong phần I của cuốn sách này.

Đến với Phần II “Chuyện chữ thời @”. Đây là phần bàn về những từ được coi là mới lạ trong giao tiếp tiếng Việt thời gian gần đây. Đó là những từ ngữ được nội sinh trong tiếng việt hoặc ngoại sinh từ tiếng nước ngoài. Chẳng hạn như từ “Cửu vạn”, đây là một từ đã quá quen thuộc trong giao tiếp tiếng Việt. Cửu vạn dùng để chỉ những người lao động chân tay, nặng nhọc thường là ở thành phố, đô thị. Ngữ nghĩa là như vậy, nhưng còn  nguồn gốc, xuất xứ thì từ đâu ra? Cửu vạn vốn dĩ là một quân bài trong cỗ tổ tôm. Quân cửu vạn được thể hiện bằng hình vẽ một người đàn ông khuân vác, è vai mang một chồng gạch rất nặng. Có lẽ chính vì đặc điểm này mà dân gian đã dùng tên quân bài này để gán cho những phu khuân vác thực thụ ở ngoài đời.

Với từ “Mâu thuẫn” cũng là một từ chúng ta thường xuyên sử dụng trong tiếng Việt. Đây là một từ Hán Việt dùng để chỉ tình trạng xung đột, đối chọi trực tiếp với nhau của hai người hay nhóm người nào đó. Tuy nhiên, từ “mâu thuẫn” lại được xuất phát từ hai dụng cụ khí giới. Mâu là một loại khí giới thời cổ, cán dài, mũi bằng thép nhọn và có hình uốn lượn dùng để đâm kẻ địch khi giáp trận. Còn Thuẫn chính là cái khiên, cái mộc, vật mà quân sĩ dùng để che đỡ gươm giáo khi xung trận. Tương truyền ở nước Sở có một người chuyên bán mâu và bán thuẫn. Khi giới thiệu về cái mâu, anh ta nói: Cái mâu của tôi rất nhọn và sắc, có thể đâm thủng bất cứ vật gì. Khi quảng cáo đến cái thuẫn, anh ta lại nói: Cái thuẫn của tôi rất tuyệt, có thể chống đỡ mọi binh khí, không loại binh khí nào có thể đâm thủng được. Thấy thế mọi người liền hỏi: Vậy đem cái mâu đâm vào cái thuẫn thì sẽ ra sao? Đến đây anh ta đuối lý, cứng họng không trả lời được. Người đời liền dựa vào tích này gọi những điều trái ngược là mâu thuẫn. Vậy là từ chuyện hai loại vũ khí trong chiến trận mà dân gian đã tạo ra một từ rất đắc dụng.

Ta có thể thấy một số từ ngữ du nhập, từ phái sinh, từ biến đổi nghĩa trong đời sống hiện đại khác như:  a-còng; hattrick; hooligan, áo trấn thủ, tú lơ khơ… Những trường hợp nội sinh trong tiếng Việt như: “áo trấn thủ”, “cơm vắt” có từ chiến dịch Điện Biên Phủ 1954; “ông Nghè”  là một chức danh tiến sĩ theo cách gọi dân gian; “Kẻ và Kẻ chợ” liên quan đến kinh thành Thăng Long xưa. Còn từ ngoại sinh thì nhiều, nhưng có một số từ đáng để suy ngẫm là nó đến từ đâu và nguyên do nào nó được nhập tịch vào tiếng Việt như: “A còng” có cách viết và đọc đều lạ;  “Penalty” hay “Hatrick” là từ quen thuộc trong bóng đá nhưng nghĩa của nó lại chẳng liên quan gì đến bóng đá;  “Tú- lơ- khơ” có một lý do chẳng ăn nhập gì với từ gốc; “Kim chỉ nam” sao không gọi là kim chỉ bắc? Tên gọi 7 nốt nhạc có từ đâu? Tú lơ khơ, con cơ, con nhép… từ đâu ra? Rửa tiền có giống rửa rau? A còng, sao mà nhiều còng thế?....Tất cả sẽ ngọn nguồn của những từ ngữ trên sẽ được lý giải trong phần II của cuốn sách này.

“Từ ngạc nhiên đến thú vị” đó là hành trình khám phá ngôn từ nói chung mà tác giả muốn chia sẻ với bạn đọc trong cuốn sách “Chuyện chữ ra chuyện đời”. Thông qua cuốn sách, các bạn sẽ hiểu thêm xuất xứ từ nguyên, ngọn nguồn những câu chuyện làm nên ngữ nghĩa của chúng.  Với Văn phong dí dỏm, dễ hiểu, gần gũi, hy vọng cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những kiến thức lý thú về tiếng Việt. Từ đó, chúng ta thêm yêu tiếng Việt hơn, yêu con người Việt Nam hơn.

Cuốn sách “Chuyện chữ ra chuyện đời” hiện đang được phục vụ tại phòng Đọc và phòng Mượn của Thư viện tỉnh Vĩnh Phúc. Ký hiệu sách: 201004265; 202006428-9.Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Hải Hà